Thay vì đợi đến tuổi 40, nhiều quốc gia yêu cầu người dân tích lũy hưu trí ngay khi đi làm và thiết kế lại hạ tầng để thích ứng già hóa.
Cuối tháng 7, đề xuất của Bộ Y tế về trang bị kỹ năng chuẩn bị cho tuổi già từ tuổi 40, thu hút nhiều ý kiến tranh luận. Một số người cho rằng 40 tuổi vẫn nặng gánh gia đình hoặc quá sớm để nghĩ về tuổi già.
Tuy nhiên, Việt Nam đang có tốc độ già hóa dân số nhanh. Điều tra dân số giữa kỳ năm 2024 ghi nhận khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên và dự báo đạt gần 18 triệu vào năm 2030. Mô hình gia đình nhiều thế hệ dần thu hẹp, con cái làm việc cường độ cao, không đủ thời gian chăm sóc người già.
Không bắt đầu ở tuổi 40
Tại các quốc gia phát triển, “độ tuổi vàng” để người dân bắt đầu lo hưu trí không tồn tại. Triết lý chung là việc chuẩn bị phải được thực hiện tự động ngay từ tháng lương đầu tiên.
Tại Singapore, Quỹ Phòng xa Trung ương (CPF) yêu cầu cả người lao động và doanh nghiệp đóng góp. Với người từ 55 tuổi trở xuống, mức đóng là 37% lương tháng, trong đó người lao động chịu 20%, chủ sử dụng lao động đóng 17%. Khoản tiền này phân bổ vào các tài khoản nhà ở, y tế, hưu trí, giúp người dân nhận lương hưu từ 65 tuổi. Công dân từ 30 tuổi cũng phải tự động tham gia bảo hiểm chăm sóc dài hạn.
“Ngay khi bước vào lực lượng lao động, chúng tôi đã ý thức cần tiết kiệm để nghỉ hưu. Chính phủ tạo ra hệ thống để người dân có thể tự chủ”, Phó giáo sư Joelle Fong, giảng viên Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, nói với VnExpress.

Một cụ già gặp khó khăn vận động, sống trong viện dưỡng lão ở Thanh Trì, Hà Nội được bạn bè tới thăm, năm 2021. Ảnh: Phan Dương
Tại Đức, người lao động tự động đóng góp vào bảo hiểm hưu trí ngay khi đi làm. Trước áp lực già hóa, nước này đang lên kế hoạch khuyến khích người dân đầu tư dài hạn qua các tài khoản hưu trí có nhà nước trợ cấp từ năm 2027.
Dù vậy, ông Christopher Gnadt, giảng viên lão khoa tại Đại học Vechta (Đức), cho biết việc chuẩn bị cho tuổi già không thể phó mặc hoàn toàn cho cá nhân. “Đa số người lao động không đủ thu nhập để tiết kiệm khoản lớn. Với họ, mạng lưới an sinh và trợ cấp xã hội của nhà nước là bệ đỡ sống còn”, ông nói.
Xã hội cho ‘cuộc đời 100 năm’
Tuy nhiên, tiền tiết kiệm và các quỹ bảo hiểm chưa phải là lời giải toàn diện. Thực tiễn tại Nhật Bản – quốc gia siêu già đầu tiên trên thế giới – cho thấy hệ thống an sinh dù được thiết kế kỹ lưỡng vẫn bộc lộ những điểm yếu. Hệ thống bảo hiểm y tế và hưu trí toàn dân năm 1961 dựa trên thực tế nhân khẩu học thời bấy giờ, với 9 người trẻ gánh 1 người già và tuổi thọ trung bình ở mức 65. Ngày nay, khi tuổi thọ tăng lên trên 80 và tỷ lệ sinh xuống chạm đáy, quỹ an sinh phải chi trả tới 25-30 năm, trong khi tỷ lệ gánh vác chỉ còn 2 người trẻ nuôi 1 người già.
Năm 2000, Nhật Bản vận hành bảo hiểm chăm sóc dài hạn quốc gia (LTCI) cho công dân từ 40 tuổi trở lên, chi trả bằng dịch vụ (cử hộ lý, cải tạo nhà cửa) thay vì tiền mặt, giúp người già sống tại cộng đồng thay vì viện dưỡng lão đắt đỏ.
Song, khi y tế được giảm tải, một vấn đề khác lại nổi lên. “Chúng tôi chứng kiến sự gia tăng tình trạng cô lập xã hội và cô đơn ở người cao tuổi”, giáo sư Đại học Tokyo Hiroko Akiyama nói.
Sau công trình nghiên cứu về người cao tuổi, Hiroko Akiyama khởi xướng mô hình “cuộc đời 100 năm”, nhấn mạnh xã hội phải tổ chức lại để con người liên tục học tập, làm việc và duy trì sức khỏe.
“Tôi cho rằng việc Việt Nam chọn mốc 40 tuổi để lo cho tuổi già là chưa trọn vẹn. Chúng ta cần chuẩn bị ngay từ khi lọt lòng”, bà nói.

Mô hình “Tái thiết cộng đồng cho một xã hội trường thọ” do giáo sư Hiroko Akiyama, Nhật Bản khởi xướng. Ảnh: Hiroko Akiyama
Một thử nghiệm tiêu biểu là dự án tái thiết Khu dân cư trường thọ Toyoshikidai ở thành phố Kashiwa, nơi bà tham gia thiết kế môi trường sống phù hợp với xã hội già hóa.
Mô hình này chuyển một phần khâu chăm sóc từ bệnh viện, viện dưỡng lão về cộng đồng, kết hợp dịch vụ y tế tại nhà, nhà ở an toàn và các không gian sinh hoạt chung. Người cao tuổi vẫn có thể làm vườn, tham gia hoạt động cộng đồng hoặc làm việc bán thời gian. Mục tiêu không chỉ là giảm nhu cầu chăm sóc y tế, mà còn giúp người cao tuổi duy trì sự độc lập, sức khỏe, kết nối xã hội và sự tự tôn.
“Các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, đều cần tái thiết kế để đáp ứng nhu cầu của xã hội có xu hướng dân số già hóa”, giáo sư Akiyama nói.
Tại Việt Nam, hệ thống an sinh đã có những nền tảng quan trọng. Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm y tế (BHYT) là những trụ cột. Tính đến tháng 6/2026, cả nước có hơn 22 triệu người tham gia BHXH và 99 triệu người tham gia BHYT.
Tuy nhiên, BHXH mới bao phủ khoảng 46% lực lượng lao động, đồng nghĩa hơn một nửa đứng ngoài lưới an sinh. Việt Nam cũng chưa có chương trình bảo hiểm chăm sóc dài hạn toàn quốc để chia sẻ chi phí khi người cao tuổi suy yếu.
Từ kinh nghiệm Singapore, phó giáo sư Joelle Fong cho rằng các nước đang phát triển phải hoạch định chính sách mang tính đón đầu và tích lũy tài chính trước khi chạm đỉnh già hóa dân số. “Chúng ta cần sớm thiết lập các mô hình an sinh xã hội bắt buộc, bền vững”, bà nói.
Ông Christopher Gnadt cũng lưu ý Việt Nam không nên đơn giản chuyển từ mô hình phụ thuộc vào gia đình sang một mô hình đề cao sự độc lập cá nhân hoàn toàn.
“Già hóa khỏe mạnh không thể chỉ ở trách nhiệm cá nhân. Chúng ta cần sự chuẩn bị của mỗi người, những cộng đồng vững mạnh và các mạng lưới an sinh từ nhà nước”, ông Gnadt nói.
Phan Dương

